Warning: file_put_contents(/home/congchun/public_html/logs/error_logs/tmp/01-03-2021_721452f48b97dd0b8db7954ae21bbd20.log): failed to open stream: Disk quota exceeded in /home/congchun/public_html/includes/class/error.class.php on line 392

Warning: file_put_contents(/home/congchun/public_html/logs/error_logs/tmp/01-03-2021_87d4bad7325c63ad2ead6b0ab23b696d.log): failed to open stream: Disk quota exceeded in /home/congchun/public_html/includes/class/error.class.php on line 392

Warning: file_put_contents(/home/congchun/public_html/logs/error_logs/tmp/01-03-2021_ccff4ec538a925338959250234cf1fe9.log): failed to open stream: Disk quota exceeded in /home/congchun/public_html/includes/class/error.class.php on line 392
Con nuôi, em nuôi lộn tùng phèo - VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG GIA ĐỊNH

Con nuôi, em nuôi lộn tùng phèo

Nguyên đơn nói bị đơn là con nuôi của mình, còn bị đơn thì bảo mình chỉ là con nuôi của… bố mẹ nuôi của nguyên đơn.

TAND huyện Thạnh Phú (Bến Tre) vừa xét xử vụ án yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khá lạ.

Theo đơn khởi kiện của bà Đ., trước đây vợ chồng cụ C. ở xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú (Bến Tre) không có con nên đã nhận bà về làm con nuôi từ khi bà còn nhỏ.

Con nuôi của… con nuôi?

Bà Đ. nói năm 1954, bà kết hôn với ông X. Năm 1958, thấy Ph. (cháu gọi chồng bà bằng chú) mồ côi mẹ nên bà và ông X. mới nhận Ph. về làm con nuôi và sống chung với gia đình cụ C. Khi đó, Ph. gọi chồng bà là Tư, gọi bà bằng vú (mẹ). Cách xưng hô này được cả họ hàng thân tộc, xóm giềng đều biết. Đến năm 1975, bà và ông X. về sinh sống ở Mỏ Cày (Bến Tre), còn Ph. thì vẫn ở lại chăm sóc vợ chồng cụ C.

Theo bà Đ., do thời còn chiến tranh, muốn để cho Ph. không đi lính (cho chế độ cũ) nên khi nhận Ph. làm con nuôi, vợ chồng bà không làm giấy khai sinh cho Ph. Đến sau này, do hoàn cảnh kinh tế, cộng thêm việc đi lại khó khăn nên vợ chồng bà cũng không làm được giấy tờ gì để xác định Ph. là con nuôi của vợ chồng bà. Mặc dù sang huyện khác sống nhưng vợ chồng bà lúc nào cũng thương Ph., luôn tới lui thăm nom Ph., đối xử tốt với Ph., luôn xem Ph. là đứa con ruột.

Khoảng năm 1990, vợ chồng cụ C. mất có để lại một căn nhà cùng một số tài sản vật dụng và hơn 5.000 m2 đất, đều do Ph. quản lý sử dụng. Lúc đó do xem Ph. là con nên vợ chồng bà cũng không có ý tranh chấp gì. Tuy nhiên, sau khi thừa hưởng tài sản trên, Ph. không làm tròn trách nhiệm của một người cháu nuôi đối với hai cụ. Trước đó, Ph. không quan tâm chăm sóc hai cụ đã đành, sau khi hai cụ mất, Ph. cũng không giỗ quảy, thờ cúng hai cụ theo phong tục tập quán. Khi có anh em thân tộc đến cúng giỗ hai cụ thì Ph. cho rằng đến để chiếm đoạt tài sản nên chửi bới và xúc phạm người khác.

Chị em nuôi nhưng cách gọi tréo ngoe

Theo bà Đ., cách đối xử của Ph. đối với vợ chồng bà chẳng khác người dưng nước lã. Những lúc vợ chồng bà bị bệnh, Ph. không hề thăm hỏi, cũng không cho một đồng nào để mua thuốc men hay đồ ăn. Khi Ph. chuyển nhượng một phần đất của hai cụ, Ph. cũng không hề hỏi đến ý kiến của vợ chồng bà.

Hai cụ trước khi mất không để lại di chúc và bà là con nuôi duy nhất của vợ chồng cụ C. Còn Ph. chỉ là cháu nuôi nên không có quyền thừa hưởng số tài sản trên nên bà khởi kiện, yêu cầu tòa giải quyết, chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà đối với Ph. và buộc Ph. phải trả lại cho bà khối tài sản trên để bà lo cúng giỗ cho vợ chồng cụ C.

Ngược lại, theo ông Ph., ông và bà Đ. đều là con nuôi của vợ chồng cụ C. Do mẹ của ông là chị ruột của chồng bà Đ. nên ông gọi ông X. là cậu, bà Đ. là mợ. Ông được vợ chồng cụ C. nhận làm con nuôi và ông về sống từ nhỏ cho đến khi hai cụ mất. Lúc đó, bà Đ. không có tên trong sổ hộ khẩu ở đây. Ông không nhớ vợ chồng cụ C. nhận ông làm con nuôi khi nào nhưng trong tất cả giấy tờ liên quan đều ghi rõ cha mẹ nuôi của ông là vợ chồng cụ C. Vì vậy, khi hai cụ mất, số tài sản để lại ông đương nhiên được quyền thừa hưởng.

Ông Ph. nói vợ chồng bà Đ. không có đóng góp công sức gì trong số tài sản trên. Năm 2003, thực hiện theo diện 815 (đất tập đoàn khoán lại), ông có cho vợ chồng bà Đ. 1.000 m2 đất và vợ chồng bà đã bán cho người khác. Ông khẳng định ông là con nuôi của vợ chồng cụ C. chứ không phải của vợ chồng bà Đ.

Bên có chứng cứ, bên không

Xử sơ thẩm mới đây, TAND huyện Thạnh Phú nhận định căn cứ vào giấy khai sinh của ông Ph. được chủ tịch UBND xã Thới Thạnh ký năm 2005, thể hiện tên cha mẹ của ông Ph. là vợ chồng cụ C. Trong bản khai nhân khẩu của Công an huyện Thạnh Phú cũng ghi rõ quan hệ giữa vợ chồng cụ C. với ông Ph. là quan hệ cha, mẹ và con nuôi. Trong sổ hộ khẩu của vợ chồng cụ C. cũng ghi người thường trú trong hộ chỉ có ông Ph. với mối quan hệ cha, mẹ và con.

Theo tòa, bà Đ. cho rằng ông Ph. là con nuôi của bà nhưng trong quá trình hòa giải cũng như tại tòa, bà không có chứng cứ nào chứng minh ông Ph. là con nuôi, cũng không cung cấp được năm sinh của ông Ph. và thời gian nhận ông Ph. làm con nuôi. Đồng thời, ông Ph. không thừa nhận vợ chồng bà Đ. là cha mẹ nuôi nên yêu cầu chấm dứt việc nuôi con của bà Đ. đối với ông Ph. là không phù hợp với pháp luật nên không được tòa chấp nhận.

Về yêu cầu đòi tài sản của bà Đ., xét thấy số tài sản nêu trên là của vợ chồng cụ C. Năm 1981, hai cụ đã đưa vào tập đoàn sản xuất. Sau đó các cụ chết, tập đoàn giải thể, ông Ph. được giao trả lại phần đất trên và được cấp quyền sử dụng. Như vậy, khi vợ chồng cụ C. chết nhưng không để lại di chúc và toàn bộ số tài sản đó được ông Ph. quản lý, sử dụng. Trước và sau khi ông Ph. được cấp quyền sử dụng phần đất trên, bà Đ. không tranh chấp hay khiếu nại gì. Và cả hai đều thừa nhận không có công sức đóng góp gì trong khối tài sản này.

Mặt khác, thời điểm vợ chồng cụ C. đưa đất vào tập đoàn và được tập đoàn cấp khoán lại cũng như khi giải thể, bà Đ. đã về sinh sống trước đó tại xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày (cũ), không còn đăng ký hộ khẩu tại xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú nên bà Đ. không được nhận khoán đất. Hơn nữa, vợ chồng cụ C. chết không để lại di chúc. Và hiện nay về thời hiệu tranh chấp di sản thừa kế cũng đã hết. Vì vậy việc bà Đ. yêu cầu ông Ph. chia cho bà khối tài sản trên là không phù hợp với quy định pháp luật.

  • Tác giả bài viết: VĂN TÂM
  • Nguồn tin: Báo Pháp luật TP. HCM
 
© 2014 CÔNG CHỨNG GIA ĐỊNH. All rights reserved

VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG TRẦN QUỐC PHÒNG
(Tên cũ: VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG GIA ĐỊNH)


Địa chỉ: 214/B2 Nguyễn Trãi, Phường Cư Trinh, Q1, Tp HCM
(Hẻm 214B Nguyễn Trãi)
Điện thoại: (+84)-28-62911116                              Fax: (+84)-28-629111169    
Email: congchunggiadinh@gmail.com               Website: www.congchunggiadinh.com

Thiết kế web NGÔI SAO SỐ Solutions
  • Đang truy cập: 6
  • Hôm nay: 1649
  • tháng này: 1649
  • Tổng lượt truy cập: 4172088

Warning: file_put_contents(/home/congchun/public_html/logs/error_logs/tmp/01-03-2021_0cb62be0f803da5c38c4df935b94fbaf.log): failed to open stream: Disk quota exceeded in /home/congchun/public_html/includes/class/error.class.php on line 392

Warning: file_put_contents(/home/congchun/public_html/logs/error_logs/tmp/01-03-2021_0cb62be0f803da5c38c4df935b94fbaf.log): failed to open stream: Disk quota exceeded in /home/congchun/public_html/includes/class/error.class.php on line 392